Bộ Tư pháp vừa có văn bản trả lời Sở Tư pháp TPHCM, làm rõ một số vướng mắc trong việc công chứng hợp đồng đặt cọc, hợp đồng ủy quyền và cho thuê tài sản đang thế chấp.
Về vấn đề đặt cọc, Bộ Tư pháp cho biết theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, việc bên nhận thế chấp đồng ý bán hoặc chuyển nhượng tài sản thế chấp là điều kiện khi các bên giao kết hợp đồng mua bán, chuyển nhượng tài sản, không phải là điều kiện khi giao kết hợp đồng đặt cọc.
Do Bộ luật Dân sự không quy định rõ về việc không xác lập giao dịch đặt cọc đối với tài sản đang thế chấp nên việc công chứng hợp đồng đặt cọc liên quan đến tài sản này không bắt buộc phải có văn bản đồng ý của bên nhận thế chấp, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Tuy nhiên, Bộ Tư pháp lưu ý, việc xác định giao dịch đặt cọc có hợp pháp và có được công chứng hay không còn phụ thuộc vào nội dung cụ thể của từng giao dịch.

Trường hợp bên thế chấp đặt cọc để bảo đảm việc bán tài sản đang thế chấp nhưng không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp là không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự.
Tuy nhiên, giao dịch đặt cọc có thể được xác lập nếu bên nhận thế chấp đồng ý hoặc tại hợp đồng đặt cọc có thỏa thuận chỉ bán tài sản sau khi hoàn thành nghĩa vụ với bên nhận thế chấp và chấm dứt quan hệ thế chấp.
Về vấn đề công chứng hợp đồng ủy quyền đối với tài sản đang thế chấp, Bộ Tư pháp cho biết Bộ luật Dân sự không có quy định hạn chế việc xác lập giao dịch này. Việc công chứng được thực hiện theo Luật Công chứng và các quy định liên quan. Công chứng viên sẽ căn cứ quy định của pháp luật để xem xét, quyết định việc công chứng đối với từng trường hợp cụ thể.
Về vấn đề cho thuê tài sản đang thế chấp, Bộ Tư pháp dẫn quy định của Bộ luật Dân sự cho biết bên thế chấp được quyền cho thuê, cho mượn tài sản thế chấp, nhưng phải thông báo cho bên thuê, bên mượn biết tài sản đang được thế chấp và phải thông báo cho bên nhận thế chấp.
Theo Bộ Tư pháp, pháp luật hiện hành không yêu cầu phải có sự đồng ý của bên nhận thế chấp khi cho thuê tài sản đang thế chấp, mà chỉ cần thông báo và bảo đảm việc giao kết hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đối với trường hợp hợp đồng thế chấp có điều khoản quy định bên thế chấp không được cho thuê, chuyển nhượng hoặc thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản nếu chưa được ngân hàng chấp thuận bằng văn bản, Bộ Tư pháp cho biết pháp luật dân sự có quy định về việc giải thích hợp đồng trong trường hợp điều khoản hợp đồng không rõ ràng hoặc có nội dung bất lợi cho một bên. Tuy nhiên, việc xác định quyền, lợi ích của các bên và giá trị của giao dịch thuộc thẩm quyền của tòa án.

Nguồnvietnamnet.vn



