Cư dân đô thị chịu tác động nặng nề
Trong những đợt nắng nóng gay gắt vừa qua, nhiệt độ cao nhất ghi nhận được ở Hà Nội cũng như nhiều tỉnh thành miền Bắc và Trung lên đến 41 – 42 độ C. Đáng chú ý, trong đợt nắng nóng vào cuối tháng 5, nhiệt độ bề mặt bê tông tại khu vực sân bay Nội Bài (Hà Nội) chạm mốc kỷ lục 71 độ C. Dẫn chứng trên cho thấy ở các đô thị lớn với sự bê tông hóa cao đã góp phần quan trọng làm trầm trọng thêm quá trình nóng lên về mặt khí hậu. Tỷ lệ bê tông hóa cao là một trong những nguyên nhân quan trọng cùng nhiều yếu tố khác liên quan tới quá trình đô thị hóa tạo nên hiện tượng “đảo nhiệt đô thị”. Đây là hiện tượng nhiệt độ không khí và bề mặt ở khu vực đô thị cao hơn đáng kể so với các vùng ngoại ô hoặc nông thôn xung quanh. Tùy theo mức độ, sự chênh lệch này thường phổ biến từ 1 – 5 độ C, thể hiện rõ rệt vào ban đêm. Biểu hiện rõ nhất cho hiện tượng đảo nhiệt đô thị là tại TP.HCM, nơi mà những năm gần đây người dân gần như cảm thấy nóng bức quanh năm. Đơn cử hiện tại, dù đang mùa mưa nhưng trong suốt tháng 6 qua, thời tiết rất oi bức với mức nhiệt nhiều ngày lên đến 35 – 36 độ C.
Biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng, đe dọa đến sức khỏe người dân
Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO), trái đất đang ấm lên nhanh chóng và 3 năm gần đây (2023 – 2025) là chuỗi những năm nóng nhất trong một thập niên qua, kéo theo tình trạng biến đổi khí hậu thêm trầm trọng. Hệ quả là những hiện tượng thời tiết cực đoan như sóng nhiệt gây nắng nóng gay gắt, siêu bão xuất hiện ngày càng thường xuyên, kể cả các đợt El Nino và La Nina cường độ mạnh cũng có xu hướng dồn dập hơn.
Bên cạnh nắng nóng gay gắt là các cơn bão mạnh, các trận mưa lớn trong thời gian ngắn kéo theo nguy cơ ngập cục bộ. Thêm vào đó, nước biển dâng và triều cường làm gia tăng nguy cơ ngập tại các đô thị lớn ven biển như TP.HCM, Cần Thơ. Quá trình sụt lún mặt đất xảy ra trên khắp Nam bộ, riêng tại TP.HCM nhiều điểm ghi nhận tốc độ lún lên đến 5 cm/năm, nhanh gấp 2,5 lần tốc độ nước biển dâng. Tác động cộng hưởng của quá trình nước biển dâng do biến đổi khí hậu khiến TP.HCM và các đô thị ở ĐBSCL nặng nề thêm.

Biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng, đe dọa đến sức khỏe người dân
Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng do Bộ NN-MT công bố cho thấy, tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP.HCM, bên cạnh mức tăng nhiệt theo xu hướng chung, sự cộng hưởng với hiệu ứng “đảo nhiệt đô thị” sẽ đẩy nhiệt độ mặt đường bê tông lên tới 45 – 50 độ C vào mùa khô. Sự gia tăng đột biến của các bệnh tim mạch, đột quỵ và áp lực lên hệ thống y tế công cộng. Ngược lại, các trận mưa có cường độ vượt đỉnh lịch sử sẽ xuất hiện thường xuyên hơn. Với các đô thị nén, tỷ lệ bê tông hóa cao như nội đô Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, hệ thống cống thoát nước hiện tại sẽ lập tức bị quá tải, tình trạng ngập lụt đô thị có thể xuất hiện chỉ sau 30 phút mưa làm tê liệt mạng lưới giao thông.
Cần xác định rõ nguồn dữ liệu chuẩn cho từng chỉ số
Kiến trúc sư (KTS) Trần Tuấn (Hội KTS TP.HCM) nhận định, việc xây dựng bộ tiêu chí là cấp thiết bởi không chỉ xuất phát từ áp lực ngày càng lớn của biến đổi khí hậu đối với hệ thống đô thị VN, mà còn đến từ khoảng trống hiện hữu trong công tác quản lý nhà nước khi đã có định hướng lớn về đô thị bền vững, thích ứng khí hậu, đô thị biển nhưng lại thiếu một công cụ đánh giá thống nhất để chuyển các định hướng đó thành hành động cụ thể ở cấp địa phương.
Thực tế hiện nay các đô thị đang chịu tác động ngày càng tiêu cực của biến đổi khí hậu như ngập lụt, nắng nóng cực đoan, xâm nhập mặn, sạt lở, thiếu nước cục bộ, suy giảm chất lượng môi trường và áp lực lên hạ tầng kỹ thuật đang diễn ra với tần suất dày hơn, mức độ phức tạp hơn và chi phí khắc phục ngày càng lớn hơn. Trong khi đó, quá trình đô thị hóa nhanh khiến dân số, tài sản, hoạt động kinh tế và các công trình hạ tầng tập trung ngày càng dày đặc trong không gian đô thị. Điều này làm cho mỗi cú sốc khí hậu không chỉ gây thiệt hại về môi trường, mà còn có thể kéo theo gián đoạn giao thông, cấp điện, cấp nước, y tế, giáo dục, thương mại và chuỗi cung ứng dịch vụ đô thị. “Điều này cho thấy rủi ro khí hậu hiện nay không còn là vấn đề “ngoại biên” mà đã trở thành một thách thức cốt lõi đối với năng lực vận hành, khả năng cạnh tranh và sự an toàn của đô thị”, KTS Trần Tuấn nhấn mạnh.

Biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng, đe dọa đến sức khỏe người dân
Góp ý cho dự thảo Thông tư, ông Nguyễn Thái Thuật Hiền, Phó chủ tịch Chi hội KTS cảnh quan VN, cho rằng bộ tiêu chí hiện nay chủ yếu đánh giá năng lực thích ứng, trong khi chưa phản ánh đầy đủ mức độ “phơi nhiễm rủi ro” và tính dễ tổn thương của từng đô thị, cho nên cần bổ sung yếu tố “phơi nhiễm rủi ro theo địa lý” vào khung đánh giá. Đây là mức độ một đô thị, khu dân cư hoặc tài sản nằm trong vùng chịu tác động của các hiểm họa khí hậu như bão, ngập lụt, nước biển dâng, xâm nhập mặn hay sạt lở. Bởi cùng một năng lực chống chịu, nhưng ở vị trí địa lý khác nhau thì mức rủi ro hoàn toàn khác nhau. Từ đó, ông đề xuất bổ sung hệ số hoặc trọng số theo vùng địa lý như ven biển, đồng bằng ngập lũ, trung du, miền núi nhằm phản ánh đúng mức độ rủi ro khí hậu của từng đô thị. Nếu không tính đến yếu tố này, kết quả đánh giá có thể chưa phản ánh đúng thực trạng chống chịu của các địa phương có điều kiện tự nhiên rất khác nhau.
Một nội dung khác được chuyên gia này lưu ý là cần xác định rõ nguồn dữ liệu chuẩn cho từng chỉ số, ưu tiên sử dụng dữ liệu thống kê, GIS và viễn thám. Cần có cơ chế thẩm định độc lập hoặc đánh giá chéo đối với các đô thị lớn để bảo đảm tính khách quan, tránh tình trạng tự đánh giá mang tính thành tích. Kết quả đánh giá không nên chỉ dừng ở mức báo cáo kỹ thuật mà phải trở thành đầu vào bắt buộc trong quá trình lập, điều chỉnh quy hoạch và xây dựng chương trình phát triển đô thị. Đây cũng nên là một trong các tiêu chí ưu tiên khi phân bổ vốn đầu tư công, tiếp cận nguồn vốn xanh và xây dựng kế hoạch khắc phục đối với các đô thị có mức chống chịu thấp.
Đề nghị bổ sung các chỉ số phản ánh hiệu quả vận hành của hạ tầng xanh như tỷ lệ bề mặt thấm nước, khả năng trữ nước tự nhiên, độ che phủ cây xanh, khả năng giảm đảo nhiệt đô thị. Ngoài ra, cần đánh giá rõ hơn mức độ bảo vệ các nhóm dân cư dễ bị tổn thương, năng lực sơ tán và sự tham gia của cộng đồng trong ứng phó với biến đổi khí hậu. Cần đánh giá định kỳ 3 – 5 năm, đồng bộ với chu kỳ rà soát quy hoạch đô thị, đồng thời có cơ chế đánh giá bổ sung sau các sự kiện thiên tai lớn và hướng dẫn cụ thể về nguồn kinh phí thực hiện.
Ông Nguyễn Thái Thuật Hiền, Phó chủ tịch Chi hội KTS cảnh quan VN
Nguồnthanhnien.vn


